Miễn trách nhiệm trong hợp đồng thương mại quốc tế

Trong hợp đồng thương mại quốc tế, việc xác định và áp dụng luật là một yếu tố quan trọng để đảm bảo tính công bằng và minh bạch cho các bên tham gia. Luật áp dụng trong hợp đồng thương mại quốc tế thường bao gồm các quy định liên quan đến lựa chọn luật áp dụng, quy định về việc giải quyết tranh chấp, và các quy định về thẩm quyền tòa án. Sự hiểu biết và tuân thủ các quy định pháp luật là cực kỳ quan trọng để tránh những tranh chấp không mong muốn và đảm bảo sự thực hiện hiệu quả của hợp đồng. Hãy cùng tìm hiểu qua bài viết sau.

Miễn trách nhiệm trong hợp đồng thương mại quốc tế
Miễn trách nhiệm trong hợp đồng thương mại quốc tế
Hợp đồng nhượng quyền thương mại quốc tế là gì
Hợp đồng nhượng quyền thương mại quốc tế là gì?

Trước khi đi đến định nghĩa của hợp đồng nhượng quyền thương mại quốc tế, ta cần hiểu: Nhượng quyền thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền; Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh. (Căn cứ theo điều 284 Luật Thương mại 2005).

Theo đó, hợp đồng nhượng quyền thương mại (hay có thể được gọi là “hợp đồng nhượng quyền thương hiệu”) là sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ nhượng quyền thương mại, làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động nhượng quyền và là cơ sở để giải quyết tranh chấp có thể sẽ phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng.

Việc nhượng quyền quốc tế có thể hiểu một bên trong quan hệ này là chủ thể nước ngoài. Theo quy định tại Điều 18 Nghị định 35/2006/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 120/2011/NĐ-CP thì đây sẽ là hoạt động nhượng quyền thương mại từ nước ngoài vào Việt Nam. Hoạt động này bao gồm cả hoạt động nhượng quyền thương mại từ Khu chế xuất, Khu phi thuế quan hoặc các khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam vào lãnh thổ Việt Nam.

2. Các trường hợp miễn trách nhiệm trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế

Miễn trách trong trường hợp một bên vi phạm hợp đồng gặp “trở ngại”

Theo quy định tại Mục IV khoản 1 Điều 79 CISG:

“Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục các hậu qủa của nó”.

Hầu hết các hệ thống pháp luật cũng như trong thực tiễn thương mại, thuật ngữ bất khả kháng được sử dụng khá phổ biến. Tuy nhiên, CISG lại sử dụng thuật ngữ “trở ngại”, thuật ngữ này được chọn vì nó phản ánh chính xác hơn thuộc tính khách quan của hiện tượng xảy ra. Trở ngại tức là sự kiện xảy ra khách quan không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể và gây khó khăn cản trở cho chủ thể đó. Trở ngại này sau khi có đủ các dấu hiệu thì chủ thể gặp trở ngại sẽ được miễn trách nhiệm. Trên cơ sở quy định tại Điều 79, trở ngại có đầy đủ ba dấu hiệu:

+ Dấu hiệu thứ nhất: Trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của các bên. Một sự kiện muốn thỏa mãn dấu hiệu này cần thỏa mãn ba điều kiện: phải xảy ra khách quan không phụ thuộc vào ý chí của bên vi phạm; không có lỗi của bên vi phạm gây ra trở ngại này; trở ngại phải hoàn toàn vượt khỏi phạm vi ảnh hưởng của họ hoặc phạm vi trách nhiệm của họ.

Sự kiện đó có thể là các hiện tượng tự nhiên nhu sóng thần, động đất, núi lửa,…hoặc có thể là những sự kiện do con người tạo ra như đình công, bạo loạn, chiến tranh…Những sự kiện này phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới việc bên vi phạm không thể thực hiện nghĩa vụ của mình.

+ Dấu hiệu thứ hai: Những trở ngại này bên vi phạm đã không thể lường trước được trong quá trình giao kết hợp đồng. Tức là trở ngại đó phải không nhìn thấy trước được hay nằm ngoài khả năng dự kiến trước; các bên không biết hoặc không buộc phải biết sự kiện đó sẽ diễn ra; sự kiện đó phải là sự kiện bất thường, không thường xuyên lặp đi lặp lại như một quy luật.

Nếu trở ngại gây khó khăn do việc thực hiện hợp đồng có thể nhìn thấy trước hay dự kiến trước thì phải coi bên vi phạm nghĩa vụ đã tự mình tiếp nhận gánh chịu rủi ro về trở ngại phát sinh, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

+ Dấu hiệu thứ ba: Những trở ngại này không thể tránh được và không thể khắc phục được hậu quả khi nó xảy ra.

Để đáp ứng dấu hiệu này, khi trở ngại có khả năng xảy ra hoặc đã xảy ra, bên vi phạm cẫn nỗ lực hết sức để khắc phục, né tránh trở ngại hoặc ít nhất là tác động tới hậu quả để lại của trở ngại nhằm hạn chế tối đa những thiệt hại tổn thất mà trở ngại đem lại. Vì thế, khi một sự kiện xảy ra mặc dù đáp ứng hai dấu hiệu trên nhưng bên vi phạm nghĩa vụ đã có thể tránh, khắc phục được trở ngại hoặc tác động vào hậu quả trở ngại bằng các biện pháp tích cực, cần thiết, kịp thời với khả năng thực hiện của mình mà không làm thì vẫn phải chịu trách nhiệm.

Ví dụ: Tranh chấp giữa một công ty Áo (người bán) và một công ty Bulgari (người mua). Người bán kiện người mua ra trọng tài đòi người mua bồi thường thiệt hại do người mua không mở thư tín dụng (L/C). Người mua cho rằng mình không mở thư tín dụng là do gặp bất khả kháng. Hai bên tranh cãi về sự kiện bất khả kháng mà bên mua viện dẫn. Tranh chấp được xét xử tại Trung tâm trọng tài quốc tế Paris, phán quyết số 7197/1992.

Miễn trách trong trường hợp bên thứ ba gặp “trở ngại”

Trong quan hệ thương mại quốc tế, hợp đồng không chỉ được ký kết giữa bên bán và bên mua mà còn có sự tham gia của nhiều bên liên quan được gọi là bên thứ ba. Trường hợp bên thứ ba gặp khó khăn, ngay lập tức ảnh hưởng tới việc thực hiện nghĩa vụ hợp đồng; bên cạnh đó, khi một bên vi phạm hợp đồng, thường xảy ra tình huống họ viện dẫn lỗi của bên thứ ba tham gia thực hiện một phần hoặc toàn bộ hợp đồng để hưởng miễn trách nhiệm.

Khoản 2 Điều 79 CISG quy định:

“Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do người thứ ba mà họ nhờ thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không thực hiện điều đó thì bên ấy chỉ được miễn trách nhiệm trong trường hợp:

a. Ðược miễn trách nhiệm chiếu theo quy định của khoản trên, và.

b. Nếu người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy định của khoản trên được áp dụng cho họ”.

Bên vi phạm hợp đồng sẽ được miễn trách nhiệm trong trường hợp việc vi phạm hợp đồng do lỗi của người thứ ba (người được bên vi phạm giao cho hoàn thành toàn bộ hoặc một phần hợp đồng). Trong khi đó người thứ ba không hoàn thành nghĩa vụ của mình và hậu quả là gây thiệt hại. Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp nào thiệt hại do bên thứ ba gây nên cũng được hưởng quyền miễn trách nhiệm. Bên vi phạm hợp đồng do lỗi của người thứ ba chỉ được miễn trách nhiệm khi người thứ ba rơi vào “trở ngại” như trường hợp trên.

Miễn trách nhiệm do lỗi của bên bị vi phạm

Điều 80 CISG quy định: “Một bên không được viện dẫn một sự không thực hiện nghĩa vụ của bên kia trong chưng mực mà sự không thực hiện nghĩa vụ đó là do chính những hành vi hay sơ suất của chính họ”.

Theo quy định trên, bên vi phạm nghĩa vụ sẽ được miễn trách nhiệm nếu như nguyên nhân của việc vi phạm đó do những hành vi hay sơ suất của chính bên bị vi phạm. Nói cách khác, bên vi phạm sẽ mất quyền yêu cầu bên vi phạm chịu trách nhiệm về việc không thực hiện nghĩa vụ của mình nếu như việc không thực hiện đó xuất phát từ chính những hành vi và sơ suất của bên bị vi phạm. Quy định miễn trách nhiệm do lỗi của bên bị vi phạm là hoàn toàn hợp lý và phù hợp với nguyên tắc lỗi. Người gây ra việc thực hiện không đúng hợp đồng thì họ không thể viện dẫn việc này để đem lại lợi ích cho chính họ, khi họ làm cho phía bên kia không thể thực hiện đúng nghĩa vụ thì họ không có quyền buộc bên kia phải chịu trách nhiệm.

3. Thoả thuận giữa các bên về miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế không chỉ được điều chỉnh bởi các quy định pháp lí mà còn được điều chỉnh bởi chính các thỏa thuận của các bên được ghi nhận trong hợp đồng. Trên cơ sở tự do ý chí thể hiện ý chí, các bên có quyền thỏa thuận mọi vấn đề liên quan đến điều kiện của hợp đồng nhằm ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên với nhau, nếu thỏa thuận đó không trái với các quy định của pháp luật, trong đó có cả vấn đề loại trừ trách nhiệm khi có sự vi phạm hợp đồng của bên có nghĩa vụ trong những trường hợp nhất định.

Có thể nói rằng các bên khi giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có thỏa thuận và quy định về trường hợp miễn trách nhiệm vào trong hợp đồng là một điều hết sức quan trọng và cần thiết. Vì rằng, mặc dù các hệ thống pháp luật của các quốc gia trên thế giới, cũng như các văn bản pháp lí quốc tế đều có quy định về các trường hợp miễn trừ trách nhiệm như sự kiện bất khả kháng, do lỗi của bên có quyền mà chúng ta đã phân tích ở phần trước. Tuy nhiên, nội hàm của các trường hợp miễn trách nhiệm nói trên ở các hệ thống pháp luật khác nhau là không giống nhau. Hơn nữa các quy định của pháp luật về trường hợp miễn trách nhiệm chỉ đưa ra ở dạng các nguyên tắc chung, mô phỏng một cách khái quát hóa và trừu tượng hóa, chính vì vậy các bên khi cần viện dẫn để áp dụng trên thực tế luôn gặp phải những khó khăn nhất định; khắc phục hạn chế này, việc các bên quy định rõ ràng và cụ thể vào trong hợp đồng các trường hợp miễn trách nhiệm, không những tạo ra một hành lang pháp lí an toàn để các bên có thể dựa vào đó nhằm bảo vệ quyền lợi của mình mà còn giúp cho cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như các bên có thể dễ dàng áp dụng trên thực tế.

4. Thực tiễn áp dụng pháp luật về miễn trách nhiệm bồi thường

– Vẫn còn hạn chế về việc xác định sự kiện bất khả kháng

– Hạn chế trong việc trường hợp miễn trách nhiệm do lỗi của bên kia

Có nhiều vụ việc xảy ra trên thực tế khi các văn bản luật quy định về trường hợp miễn trách nhiệm do lỗi bên kia. Song lợi dụng các quy định đó, các chủ thể cố tình làm lợi cho bản thân bằng nhiều cách khác nhau, biết được bên kia vì thiếu hiểu biết sẽ dẫn đến lỗi vi phạm hợp đồng, bản thân chủ thể này sẽ được miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do lỗi bên kia.

    ĐỂ LẠI THÔNG TIN TƯ VẤN


    Trả lời

    Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *